Truyện song ngữ · HSK 6 · truyện 21/47
Bữa cơm tất niên của một người
tản văn23 câumọi chữ Hán thuộc HSK 6 trở xuống
Năm đầu tiên hai đứa con không về, người mẹ vẫn nấu đủ sáu món, và hiểu ra bữa cơm ấy nấu cho ai.
今年是我母亲第一次一个人吃年夜饭。
Năm nay là lần đầu mẹ tôi ăn bữa tất niên một mình.
哥哥在南方值班,我在国外,都回不去。
Anh trai trực ở miền Nam, tôi ở nước ngoài, đều không về được.
过年前两天我打电话,说今年简单点吧。
Hai hôm trước Tết tôi gọi điện, bảo năm nay làm gọn thôi mẹ ạ.
她说好,声音听着很痛快。
Bà bảo được, giọng nghe rất dứt khoát.
除夕那天下午,她发来一张照片。
Chiều ba mươi, bà gửi sang một tấm ảnh.
桌上摆了六个菜,鱼、肉、丸子,一样不少。
Trên bàn bày sáu món, cá, thịt, thịt viên, chẳng thiếu thứ gì.
旁边还放了两副碗筷,摆得整整齐齐。
Bên cạnh còn đặt hai bộ bát đũa, xếp ngay ngắn.
我给她打过去,说您怎么还做这么多。
Tôi gọi lại, bảo sao mẹ vẫn nấu nhiều thế.
她笑着说,做惯了,手停不下来。
Bà cười bảo, làm quen tay rồi, tay nó không dừng được.
我问那两副碗筷是给谁的。
Tôi hỏi hai bộ bát đũa kia là cho ai.
电话那头沉默了几秒,她说习惯了。
Đầu dây kia im mấy giây, bà bảo quen rồi.
这句话我后来想了很久。
Câu ấy về sau tôi nghĩ rất lâu.
小时候我总嫌她做得多,吃不完还要热三天。
Hồi bé tôi hay chê bà nấu nhiều, ăn không hết còn hâm ba ngày.
那时候不明白,她做的不是菜的数量。
Hồi ấy tôi không hiểu, thứ bà nấu không phải là số lượng món ăn.
六个菜是我们家四口人吃饭的样子。
Sáu món là dáng vẻ bữa cơm bốn người nhà tôi.
父亲走了以后,她还是做六个。
Sau khi cha mất, bà vẫn nấu sáu món.
我们不在了,她也还是做六个。
Chúng tôi không có mặt, bà cũng vẫn nấu sáu món.
她不是舍不得少做,是舍不得那个样子没有了。
Bà không tiếc công nấu bớt đi, bà tiếc cái dáng vẻ ấy mất đi.
那两副碗筷摆在那里,不是等我们,是替她记住我们。
Hai bộ bát đũa bày ở đó không phải đợi chúng tôi, mà là thay bà nhớ chúng tôi.
挂了电话我在阳台上站了很久,外面正在放烟花。
Cúp máy rồi tôi đứng ngoài ban công rất lâu, bên ngoài người ta đang đốt pháo hoa.
那一刻我忽然明白,年夜饭从来不是一顿饭。
Khoảnh khắc ấy tôi chợt hiểu, bữa cơm tất niên chưa bao giờ chỉ là một bữa ăn.
今年过年我一定回去,什么理由都不算数。
Tết năm nay tôi nhất định về, lý do gì cũng không tính.
我要吃她那六个菜,一个也不许剩。
Tôi phải ăn sáu món ấy của bà, một món cũng không được thừa.