Truyện song ngữ · HSK 6 · truyện 30/47
Cái kệ đồ bỏ quên
đời thường20 câumọi chữ Hán thuộc HSK 6 trở xuống
Quán cà phê nhỏ giữ đồ khách bỏ quên suốt bảy năm; món ở đó lâu nhất hoá ra chưa từng bị bỏ quên.
我常去的那家咖啡店,门口有个木架子。
Quán cà phê tôi hay ngồi, ngoài cửa có một cái giá gỗ.
架子上放着客人落下的东西,一样一样摆好。
Trên giá bày đồ khách bỏ quên, từng món từng món xếp ngay ngắn.
有雨伞、手套、书,还有一只小小的玩具熊。
Có ô, găng tay, sách, và cả một con gấu bông bé xíu.
老板娘说,谁的东西谁来拿,不用登记。
Bà chủ bảo, của ai người ấy tới lấy, không cần ghi sổ.
我问她不怕被人拿错吗,她说七年没错过一次。
Tôi hỏi bà không sợ bị lấy nhầm à, bà bảo bảy năm chưa nhầm lần nào.
架子上最旧的是那只玩具熊,放了六年。
Món cũ nhất trên giá là con gấu bông ấy, để đã sáu năm.
熊的一只耳朵掉了,身上洗得发白。
Gấu rụng mất một tai, thân giặt đến bạc màu.
有客人想买,老板娘从来不卖。
Có khách hỏi mua, bà chủ chưa bao giờ bán.
我以为那是哪个孩子丢的,一直没人来找。
Tôi tưởng đó là của đứa trẻ nào đánh rơi, mãi không ai tới tìm.
去年冬天下大雪,店里只剩我一个客人。
Mùa đông năm ngoái tuyết lớn, trong quán chỉ còn mỗi tôi là khách.
老板娘泡了两杯茶,坐下来跟我说了几句。
Bà chủ pha hai chén trà, ngồi xuống nói với tôi vài câu.
那只熊是她女儿的,女儿六年前走了。
Con gấu ấy là của con gái bà, con bà mất sáu năm trước.
走的时候十一岁,病了两年。
Lúc đi mười một tuổi, ốm hai năm.
她把熊放在架子上,是想让它在人多的地方。
Bà đặt gấu lên giá, là muốn nó ở chỗ đông người.
她说孩子怕黑,也怕一个人待着。
Bà bảo con bé sợ tối, cũng sợ ở một mình.
这些年有很多人在架子前停下,摸摸它的头。
Mấy năm nay nhiều người dừng lại trước giá, xoa đầu nó một cái.
老板娘说,这样它就一直有人看着。
Bà chủ bảo, thế là nó luôn có người trông chừng.
我那天坐到很晚,走的时候雪已经停了。
Hôm ấy tôi ngồi đến rất khuya, lúc về tuyết đã tạnh.
我路过架子,也伸手摸了一下那只熊。
Tôi đi ngang cái giá, cũng đưa tay chạm vào con gấu một cái.
从那以后,我每次去都会这么做一下。
Từ đó về sau, lần nào tới tôi cũng làm như vậy một cái.